Viết tiếp khúc khải hoàn
Ngày 30/4/1975 đã khắc sâu vào tâm khảm của hàng triệu người con đất Việt, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất non sông, đưa đất nước vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhân dân thị xã Lạng Sơn diễu hành trên đường phố mừng ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước 30/4/1975 - Ảnh: VŨ BÁCH
Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cùng với Bạch Đằng (1288) chống quân Nguyên Mông, trận Chi Lăng (1427) chống quân Minh, trận Đống Đa (1789) chống quân Thanh, chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) chống quân Pháp, tạo nên những chiến công hiển hách, những mốc son chói lọi trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta. Năm 2026, khi Đảng ta vừa tiến hành thành công Đại hội lần thứ XIV, dấu mốc mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước được viết tiếp từ khúc khải hoàn ca sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”
Cả cuộc đời của lãnh tụ Hồ Chí Minh đều mong muốn thiết tha Bắc - Nam sum họp một nhà. Người luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào miền Nam, bởi “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Từ khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiến hành sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, giành được độc lập năm 1945, bước tiếp vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ gian khổ, khi đồng bào miền Bắc được giải phóng, đồng bào miền Nam vẫn rên xiết dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ, Người luôn sát cánh, chia sẻ đau thương mất mát với đồng bào miền Nam anh dũng kiên cường - Thành đồng Tổ quốc. Trong trái tim rộng lớn của Người, mỗi câu nói, mỗi việc làm, mỗi khi ở đâu, làm gì, đều ghi đậm dấu hình Nam Bộ. Người nói: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi” và “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên.”. Ngày 6/1/1946, trước khi lên đường sang Pháp với tư cách là Thượng khách của Chính phủ Pháp, trước những băn khoăn của đồng bào Nam Bộ, Bác đã gửi thư khẳng định: “Đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Đoàn cựu du kích Bắc Sơn thăm và động viên các chiến sĩ Tiểu đoàn Bắc Sơn 1 trước khi lên đường vào Nam chiến đấu (năm 1969) - Ảnh: VŨ BÁCH
Kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, nhưng miền Nam tiếp tục cuộc chiến đấu để bảo vệ độc lập dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc (9/1954) với một lời hứa và cũng là niềm mong mỏi của Người: “Đến ngày hòa bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó, rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta”. Tháng 2/1958, trong Tuyên bố tại cuộc họp báo ở Niu ĐêLi (Ấn Độ) về vấn đề thống nhất nước Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Miền Nam là thịt của thịt chúng tôi, là máu của máu chúng tôi”. Cũng trong tháng 2/1958 trong buổi tiệc chiêu đãi của Tổng thống Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai có thể chia cắt được” và chân lý này được Người khẳng định rất nhiều lần, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, truyền cảm hứng mạnh mẽ, tạo động lực cho hàng triệu người Việt Nam bước ra mặt trận với ý chí "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Lời của Bác là lời hiệu triệu thiêng liêng, là biểu tượng của lòng quyết tâm vượt qua mọi đau thương, gian khổ, để giành bằng được độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất cho đất nước và hạnh phúc ấm no cho Nhân dân. Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc, Bác đã dành tình cảm, niềm tin mãnh liệt cho đồng bào miền Nam, cho sự nghiệp giải phóng Tổ quốc, Người viết: “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” và dặn dò: “Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam”.
Vào thời khắc lịch sử 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng phấp phới tung bay trên nóc phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, chiến dịch lịch sử mang tên Bác kính yêu toàn thắng, sự nghiệp giải phóng miền Nam kết thúc thắng lợi. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải, đất nước thu về một mối. Nỗi khát khao, niềm hy vọng, mục tiêu hàng đầu duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ý chí quyết tâm cao cả của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta về xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đã thành hiện thực.
Vững bước vào kỷ nguyên mới
Đại thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là một trong những chiến công hiển hách nhất, lẫy lừng nhất, vang dội nhất của dân tộc Việt Nam qua mọi thời đại. Hơn nửa thế kỷ đã đi qua kể từ ngày non sông liền một dải, nhưng những âm hưởng của khúc khải hoàn vẫn ngân vang trong lòng dân tộc Việt Nam.

Mít tinh mừng ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước tại thị xã Lạng Sơn (ngày 1/5/1975) - Ảnh: VŨ BÁCH
Hiện nay, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều giai đoạn cách mạng, nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên cơ sở không ngừng phát triển và hoàn thiện lý luận, tổ chức thực hiện về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - Đó là kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và kế thừa tinh hoa trí tuệ của nhân loại; kiên định mục tiêu độc lâp dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, được thể hiện rõ qua các nghị quyết của Đảng qua các kỳ đại hội. Cùng với những thành tựu, đất nước ta cũng gặp phải không ít những khó khăn, thách thức đan xen, trong đó có phải kể đến những thách thức đến từ sự phai nhạt, những cái nhìn sai lệch về giá trị lịch sử dân tộc, đặc biệt là truyền thống kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta. Hơn ai hết, là người Việt Nam, chúng ta phải nhận thức sâu sắc, đúng đắn, đầy đủ, toàn diện và trân trọng lịch sử dân tộc cũng như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là tính chính nghĩa của đại thắng mùa Xuân năm 1975. Đồng thời, góp sức, chung tay cùng cả hệ thống chính trị kiên quyết đấu tranh, loại bỏ những âm mưu xuyên tạc, bóp méo và xét lại lịch sử về chiến thắng 30/4/1975, về sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước của các thế lực thù địch, phản động. Đó là nghĩa vụ và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta để đại thắng mùa Xuân năm 1975 mãi mãi là khúc ca khải hoàn của dân tộc Việt Nam.
Viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc, thực hiện lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Hơn ai hết, thế hệ hôm nay hiểu rõ rằng độc lập và thống nhất không phải là cái đích cuối cùng, mà là điểm khởi đầu cho một hành trình mới: hành trình xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, văn minh, phát triển và trường tồn... Kỷ nguyên mới mà chúng ta đang bước tới với công nghệ trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững đòi hỏi phải có tư duy mới, mô hình phát triển mới, con người mới. Thế kỷ XXI là thế kỷ của những dân tộc biết làm chủ vận mệnh của mình. Và dân tộc Việt Nam với tất cả những bài học từ quá khứ, với tất cả sự đoàn kết hôm nay nhất định sẽ viết tiếp những chương mới rực rỡ trong hành trình phát triển của mình”.


